Sáp nhập tỉnh không phải là biện pháp để Việt Nam hùng mạnh

Nguyễn Ngọc Chu


KHẮC NHẬP KHẮC XUẤT

FB Sen Hoa

Vốn là câu thần chú có trong truyện cổ tích “Cây Tre Trăm Đốt” lưu hành trong chốn dân gian cả ngàn năm nay, nhưng “khắc nhập khắc xuất” hình như cũng là ý chí của các nhà quản trị thời nay. Chuyện tách ra nhập vào, từ các cơ quan tổ chức nhà nước “nhỏ như con thỏ” đến các đơn vị hành chính từ xã đến tỉnh là chuyện vẫn thường xảy ra. Câu hỏi đặt ra là tại sao phải nhập hay tách tỉnh này tỉnh nọ mấy ngày nay đang nóng trên công luận sau khi có thông báo chính thức của một quan bà, chị của cái ông giám đốc sở đi buôn chổi đót mà kiếm được tiền xây biệt phủ, mua được đất làm trang trại bạt ngàn trên núi. Lý do chính được nêu ra là các vị trong cung phát hiện thấy có tình trạng các đơn vị hành chính ngày càng phình to về cơ cấu và tăng lên về số lượng. Năm 1986 Việt Nam chỉ có 44 đơn vị hành chính cấp tỉnh, nhưng đến 2021 đã tăng lên 63 đơn vị cấp tỉnh (tăng thêm 19 tỉnh, 178 huyện, và 1.136 xã). Từ đây, số lượng các quan từ xã đến tỉnh cũng tăng chóng mặt, dân gù lưng đóng thuế cũng không đủ nuôi bộ máy quan chức khổng lồ này, đến nỗi một vị đại biểu của dân đã phải thốt lên giữa nghị trường rằng tiền lương nhà nước trả cho đội ngũ này có vài triệu một tháng thì họ không sống được, chính những bà bán trà đá trên phố, các bà các chị buôn thúng bán rong trên chợ, và hàng ngàn người nghèo kiết xác bán vé số dạo đã nuôi đội ngũ quan lại triều đình cấp phường xã đấy, mà với mức lương khủng chứ không bèo như của chính phủ đâu. Thật là một câu trả lời đích đáng! Tuy nhiên, làm cách nào để hạn chế nạn “phềnh quan” thì triều đình đã nghĩ nát nước gần chục năm nay và cuối cùng đưa ra giải pháp can thiệp bằng cách sáp nhập dựa trên hai cái tiêu chí là quy mô dân số và diện tích tự nhiên. Các tỉnh miền núi có dân số từ 900 ngàn người và diện tích tự nhiên từ 8.000 km2 trở lên sẽ không bị sáp nhập. Những tỉnh không phải miền núi có quy mô từ 1,4 triệu người và diện tích tự nhiên từ 5.000 km2 trở lên. Theo cách tính như vậy, phải có đến 20 tỉnh thành nằm trong nhóm nguy cơ cao, nhưng quan chị bảo từ nay đến 2026 sẽ chỉ sắp xếp lại và sáp nhập khoảng 10 tỉnh thành thôi. Tôi dám chắc các vị chức việc từ xã đến tỉnh nằm trong nhóm nguy cơ đang sốt sình sịch, quên cả phải làm gì cứu dân trong cơn dịch dã đang hoành hành khắp thôn cùng ngõ hẻm!

Tôi kịch liệt ủng hộ chủ trương giảm thiểu bộ máy quan liêu cồng kềnh nhiều tầng nhiều lớp chỉ hành dân kiếm ăn mà chả giúp được gì cho họ. Đó là việc cần làm và phải làm, cấp bách lắm rồi, nguy cấp lắm rồi. Trên thực tế dân ta không chỉ nuôi một bộ máy nhà nước mà có đến ba bộ máy đều ăn lương từ thuế của dân. Một là bộ máy hành chính từ trung ương đến xã thôn; hai là một bộ máy cũng từng ấy nhân sự và ban bệ của hệ thống chính trị; và ba là bộ máy vệ tinh chỉ biết ăn theo nói leo, khi cần thì tiền hô hậu ủng: đó là các đoàn hội được lập ra cho có vẻ… của dân nhưng chỉ ăn lương của dân chứ chả làm gì cho dân! Nói thật dân ta (trong đó có tôi) ngoan quá, hiền quá, sợ cường quyền quá nên không dám ho he, cứ gù lưng làm nuôi thằng ngay lưng ăn chứ trên thế gian này, ít có quốc gia nào mà người ta khai thác đến cạn kiệt nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên chỉ để nuôi bộ máy cai trị đông đúc lúc nhúc như thế mà dân cứ ngoan hiền, cứ ca tụng được! Cái lỗi hệ thống ấy mới là cội rễ của vấn đề, là đích đến của giải pháp. Còn sáp nhập thì có lẽ chỉ quậy đục nước lên cho cá chạy thôi. Tôi thực sự có nhiều băn khoăn về giải pháp giảm thiểu bộ máy bằng cách sáp nhập tổ chức các tỉnh huyện xã. Một mặt nó cho thấy sự bất lực của chính quyền trung ương đối với đám tiểu yêu chuyên trị cát cứ bên dưới, mặt khác, đấy không phải là liều thuốc độc để trị thói phềnh quan và nhũng lạm.

Không nói lịch sử đâu xa, từ trước những năm 1990 thôi, người ta đã nhân danh “sắp xếp lại giang sơn”, tiến hành một cuộc sáp nhập ồ ạt các tỉnh, huyện, xã với khí thế đầy ắp sự lãng mạn để “kiện toàn bộ máy nhà nước” và biến “mỗi huyện thành một pháo đài kinh tế – quốc phòng”. Tiêu chí dân số và diện tích cũng được nêu ra như một cái cớ để tiến hành sáp nhập. Nhưng các cuộc hôn nhân cưỡng bức giữa các tỉnh huyện xã một cách duy ý chí đã thất bại thảm hại. Cuộc hôn nhân nào bền cũng được hai chục năm, còn thì khi đã hết hóc môn tình yêu, họ đều rã rời nhau ra hết. Cho đến trước năm 1991, khi các cặp uyên ương do sáp nhập này đã rã đám xong thì một làn sóng mới chia nhỏ các tỉnh “cho dễ quản lý” lại được tiến hành. Năm 2004, Tỉnh Lắc bị chia làm đôi, tỉnh Nông ra đời. Cũng năm ấy, chị em Biên-Lai xẻ đàn tan nghé thành Điện Biên và Lai Châu. 1996, tỉnh Cà Mau bị xẻ làm hai, tái lập Bạc Liêu và đẻ ra tỉnh mới Cà Mau. Cuộc chia tay sớm hơn của chị em nhà Hậu Giang xảy ra năm 1991, trả lại cái xác cũ cho Sóc Trăng, đẻ ra cái thành phố Cần Thơ và nhào nặn lại Hậu Giang.

Nhìn lại lịch sử hình thành các tỉnh, huyện ở xứ ta, có thể nhận thấy các bậc tiên hiền thường căn cứ vào các tiêu chí lịch sử lãnh thổ, nguồn gốc dân cư và đặc điểm văn hóa để lập ra các đơn vị hành chính cấp tỉnh và huyện nhằm đạt được mục tiêu cai trị, phát triển bền vững và bảo vệ đất nước. Bây giờ lại lấy tiêu chí dân số và diện tích làm xuất phát điểm thì có lẽ cái việc xuất-nhập sẽ còn tiếp tục dài dài mà không bền vững. Nếu cứ độ chục năm lại cho ly dị và xáo trộn đơn vị hành chính thì cả quan lẫn dân lấy đâu ra được sự yên ổn mà làm ăn? Nếu cứ lập ra bộ máy cai trị khổng lồ ba tầng bốn lớp, xây trụ sở, tượng đài ngàn ngàn tỷ, xong rồi lại bỏ rơi và xây mới vì sáp nhập thì tiền nào chịu nổi? Nếu cứ ông này bà kia lo lắng bị mất ghế, phải giành ghế, chia chác ghế, ông phó bà trưởng, kèn cựa, chia bè kéo cánh ngấm ngầm hạ bệ nhau, thì làm sao bộ máy ấy còn đầu óc toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp trị dân và bảo vệ đất nước?

Theo thiển ý của tôi thì tiêu chí dân số và diện tích không nên là động cơ của sáp nhập, không nên sử dụng như một khuôn vàng thước ngọc để vận dụng một cách cơ học máy móc như vậy vào việc sáp nhập các đơn vị hành chính. Tỉnh, huyện không chỉ là cái khung của một đơn vị hành chính đơn thuần, nó còn là tâm lý cộng đồng, là tình cảm quê hương, là lối sống, là văn hóa, gắn với mỗi vùng, miền, mỗi cá nhân, tạo thành một sợi dây liên kết con người, vô hình nhưng bền vững. Khi chúng ta bỏ qua tiêu chí này để sáp nhập hay chia tách, sẽ chẳng khác nào bác thợ mổ lia một nhát dao vào cơ thể của một cấu trúc, một thực thể văn hóa, và do đó làm tổn thương tình cảm và lịch sử.

Tôi vẫn cứ nghe truyền thông nhai nhải cái điệp khúc văn hóa và đa dạng văn hóa là nguồn nội lực vô tận để phát triển, nhưng chúng ta hầu như không làm gì để khai thác nguồn nội lực ấy. Gần đây, phong trào mỗi làng một sản phẩm đã phần nào khai thác được cái nguồn nội lực trong dân, nhưng tia hy vọng vừa lóe lên lại có thể bị tắt ngấm. Khai thác đa dạng văn hóa để phát triển tức là biến cái truyền thống ấy thành tiền, và “mỗi làng một sản phẩm” đã đáp ứng được mục tiêu ấy, đặc biệt có giá trị ở các tỉnh nghèo, đa văn hóa, đa tộc người. Sáp nhập tỉnh huyện xã cũng có nghĩa là đặt đa dạng văn hóa và mạng lưới xã hội của cư dân trước một thách thức lớn khó vượt qua bởi văn hóa của các nhóm nhỏ thường mong manh dễ vỡ lắm. Các tỉnh, huyện được hình thành trong lịch sử, bản thân nó đã trở thành những các cấu trúc địa-văn hóa-lịch sử. Nếu chúng ta lia một nhát dao để chia tách hay sáp nhập các cơ thể sống ấy, chúng ta cũng đồng thời làm tổn thương văn hóa và tình cảm của con người là những thành tố li ti nhưng liên kết chặt trong cấu trúc đó. Hiện tượng đấu đá tranh giành bè phái trong bộ máy quan liêu do chia tách hay sáp nhập chính là biểu hiện của tình trạng bị tổn thương văn hóa lịch sử, và do đó triệt tiêu tính đa dạng văn hóa như là một nguồn lực của phát triển. Nhiều quan chức nói với tôi việc sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội là ví dụ điển hình cho sự thành công để lần này sáp nhập cả chục tỉnh. Tôi rất tiếc phải nói rằng cái thành công ở vẻ ngoài ấy thực ra là một phát súng đại bác nã vào lịch sử, bức tử nền văn hóa xứ Đoài nổi tiếng và làm tiêu tan tính đa dạng văn hóa và nguồn lực văn hóa của một vùng cho phát triển bền vững đất nước. Tôi e rằng công cuộc tách – nhập lần này không chỉ làm tiêu tán nhân tài vật lực mà các tỉnh huyện xã đã gây dựng, hồi phục lại sau cơn cớ nhập-xuất của mấy chục năm về trước, mà còn có thể tiếp tục làm tiêu tán đa dạng văn hóa vùng miền vốn là nguồn lực cho phát triển, và những tên gọi, tập tục, lối sống, mối liên kết con người của tỉnh huyện xã xưa sẽ chỉ còn lại trong hoài niệm của người đời.

***

CON KIẾN LEO CÀNH ĐA…

Lưu Trọng Văn

Theo nghị quyết 1211 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với tỉnh miền núi, vùng cao quy mô dân số đạt chuẩn 900.000 người trở lên, diện tích tự nhiên từ 8.000 km2 trở lên. Đối với các tỉnh còn lại phải đạt chuẩn quy mô dân số 1,4 triệu người trở lên, diện tích tự nhiên từ 5.000km2 trở lên. Đối với các thành phố trực thuộc trung ương quy mô dân số đạt chuẩn là 1,5 triệu người trở lên, diện tích tự nhiên đạt 1.500 km2 trở lên. Xét theo tiêu chuẩn này khoảng 20 tỉnh sẽ phải bị xáo trộn vì sáp nhập hoặc mở rộng.

Đó là Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Ninh Bình, Cần Thơ, Vĩnh Long, Thái Bình, Nam Định do không đạt chuẩn về diện tích.

Đó là Bắc Kạn, Lai Châu, Lao Cai, Điện Biên, Ninh Thuận, Cao Bằng, Kon Tum, Đăk Nông, Quảng Trị vì không đạt chuẩn dân số.

Tiêu chí để xác định một tỉnh là diện tích và dân số là điều không thể hiểu nổi với thời đại 4.0 cùng chuyên môn hoá và phân công hoá hiện nay!

Lai Châu diện tích quá lớn đã phải tách ra Điện Biên để “dễ quản lý hơn”. Bây giờ có khi lại nhập lại để cho đủ dân số.

Đúng là con kiến lại leo cành đa…

Để xảy ra tình trạng không ổn định, hết nhập lại tách lại nhập, gây tốn kém khủng khiếp tiền mồ hôi nước mắt của Dân mà hiệu quả đã rõ và chắc chắn vẫn sẽ là vô ích là do trình độ quản trị quốc gia quá kém và chất lượng Quốc hội quá non không có thước đo chuẩn mực nào hết.

Lấy tiêu chí diện tích và số dân của mô hình quản lý cũ đã lạc hậu để áp chuẩn cho xác lập địa lý hành chính hôm nay và cho cả tương lai là điều khó chấp nhận được.

Tư duy phát triển hiện đại vẫn giữ bản sắc văn hoá riêng hôm nay và tương lai phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng Dân cùng chất lượng thể chế chứ không phải số lượng Dân và diện tích đất.

Một đất nước phát triển không hề phụ thuộc quy mô quốc gia, tỉnh theo diện tích và dân số thế nào, mà hoàn toàn phụ thuộc quy hoạch kinh tế quốc gia với chuỗi kinh tế vùng-đa trung tâm-đa mũi nhọn và chất lượng nhà quản lý cùng mô hình quản lý dân chủ, sáng tạo và hệ thống luật pháp tiên tiến.

Việc làm đầu tiên của Quốc hội và chính phủ là phải thiết kế được từng thế mạnh dựa trên tiềm năng vùng, tài nguyên vùng, vị trí địa lý vùng, bản sắc vùng, thế mạnh dân cư vùng để quy hoạch thế mạnh kinh tế vùng liên kết đa trung tâm, đa mũi nhọn ngành nghề, công nghệ.

Trên đường ray của định hướng phát triển này mới sắp xếp tính toán các tiêu chí mô hình quản lý hành chính các tỉnh, huyện, thành phố phù hợp kinh tế phát triển vùng, đa trung tâm, đa mũi nhọn công nghệ đã xác lập.

Ví dụ. Vùng chỉ trồng rừng và làm giàu từ tài nguyên rừng thì quy hoạch vùng liên kết các tỉnh có đất đai rừng và dân cư thích hợp trồng và bảo vệ rừng thì cần gì dân cư đông?

Ví dụ. Xác định thủ đô chỉ là trung tâm hành chính, đầu não chính trị, ngoại giao thì cần gì đất rộng, người chật?

Các nhà quản lý đã đi ngược quy trình quản lý hiện đại mà cái đích là phát triển kinh tế, xã hội.

Với tầm nhìn nhăm nhăm xây dựng mô hình quản lý theo diện tích và số dân, kiến nghị của bộ Nội vụ về sáp nhập tỉnh là một bước lùi chứng minh sự yếu kém trước những thay đổi toàn diện của thế giới theo mô hình quản lý mềm với công nghệ 4.0 lấy hạt nhân là chất lượng Dân và chất lượng nhà quản lý.

Nghe tin Bộ Nội vụ chuẩn bị phương án nhập tỉnh mà buồn. Buồn vì thấy rằng những nhà quản lý hiện tại không học được bài học thực tiễn 50 năm (1954-2004) chia tách và sáp nhập tỉnh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) và nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN).

Quản lý nhà nước cần phải nắm được quy luật lúc nào thì chia tách và sáp nhập tỉnh, và việc chia tách hay sáp nhập tỉnh dựa trên những nguyên tắc nào? Quản lý nhà nước thì phải học từ bài học thực tiễn đã có về tách nhập tỉnh của tiền nhân. Cả 3 vấn đề vừa nêu đều chưa được để ý.

1. KHI NÀO THÌ SÁP NHẬP TỈNH?

Địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã là vấn đề lịch sử truyền đời nhiều triều đại. Nó được hình thành, tồn tại và thay đổi theo quy luật. Nó là vấn đề quốc gia, không phải là vấn đề của cá nhân, nên không thể tuỳ tiện.

Nghiên cứu lịch sử thay đổi địa giới hành chính nội quốc gia cho thấy, việc hình thành, sáp nhập, chia tách tỉnh thường xuất hiện khi có một trong 2 điều kiện sau đây:

1/. Lãnh thổ quốc gia thay đổi.

2/. Thay đổi căn bản phương thức quản lý quốc gia.

Để thấy rằng, ngay đến sự chiếm quyền của triều đại mới thay thế cho triều đại cũ, cũng không phải là nguyên nhân để dẫn đến sự chia lại địa giới tỉnh thành.

Chiếu theo theo 2 điểm nêu trên, thì tại thời điểm hiện tại, không có nhu cầu cấp thiết cho việc chia lại tỉnh thành.

2. AI ĐƯA RA CHỦ TRƯƠNG SÁP NHẬP TỈNH?

Nhìn vào lịch sử, bao giờ thì thay đổi lãnh thổ quốc gia? Chỉ có chiến tranh mới thay đổi lãnh thổ quốc gia. Chỉ có người đứng đầu quốc gia đi xâm chiếm, hoặc bang giao, trao đổi, mua bán, mới thay đổi lãnh thổ quốc gia. Cũng chỉ có người đứng đầu quốc gia mới có thể quyết định thay đổi phương thức quản lý quốc gia.
Cho nên người đưa ra chủ trương sáp nhập tỉnh, thay đổi cấu trúc địa lý hành chính quốc gia là người đứng đầu quốc gia. Chính các bậc quân vương làm thay đổi biên giới quốc gia, nên thay đổi lại biên giới địa lý hành chính nội quốc. Chính các bậc quân vương, khi lên nắm quyền, thực thi phương thức quản trị mới, mà dẫn dến khả năng thay đổi địa giới hành chính nội quốc.

3. SỰ THẤT BẠI CỦA THỰC TIỄN NHẬP VÀ TÁCH TỈNH

Lịch sử Việt Nam, có lẽ chưa có thời nào, lại có nhiều nhập rồi tách tỉnh như giai đoạn từ năm 1954 cho đến năm 2004.

Thời cố TBT Lê Duẩn, sau khi thống nhất, chủ trương quản lý thẳng đến cấp huyện, 521 huyện là 521 “pháo đài”, biến cấp tỉnh thành khâu trung gian. Cho nên từ tháng 12/1975 về sau đã sáp nhập hầu hết các tỉnh trong cả nước. Từ 44 tỉnh miền Nam và 25 tỉnh thành miền Bắc đã sáp nhập còn lại 36 tỉnh, 3 thành phố và 1 đặc khu. Các tỉnh Hoàng Liên Sơn, Hà Nam Ninh, Bình Trị Thiên, Gia Lai – Kon Tum, Phú Khánh, Minh Hải… xuất hiện là vì thế.

Đó là một vi phạm “tiên đề”. Vì không tuân thủ nguyên tắc tuần tự từ trên xuống dưới, bỏ qua cấp tỉnh để quản lý cấp huyện, chẳng khác gì chỉ huy quân từ tổng tư lệnh tối cao đến cấp trung đoàn mà bỏ qua quân khu và sư đoàn. Cũng từ chính sách quản lý cấp huyện này, mà có một số đại diện cấp huyện đã vào Trung ương, trong đó có cựu TT Nguyễn Tấn Dũng.

Vi phạm “tiên đề” thì thất bại. Việc sáp nhập tỉnh lớn năm 1975 -1978 không đưa lại những thay đổi có lợi gì cho kinh tế và quản lý quốc gia. Cuối cùng phải tách tỉnh lại như cũ vào các năm 1989-1997.

Sự vi phạm “tiên đề” này lặp lại trong điều hành kinh tế khi cựu TT Nguyễn Tấn Dũng bổ nhiệm trực tiếp các tổng giám đốc các tập đoàn, bỏ qua cấp Bộ. Hậu quả là nhiều tập đoàn lao đao phá sản.

Các năm 2003-2004, thời cựu TBT Nông Đức Mạnh lại xuất hiện chia tỉnh. Lai Châu thành Lai Châu và Điện Biên. Đắk Lắk thành Đắk Lắk và Đắk Nông. Cần Thơ thành Cần Thơ và Hậu Giang.

4. SÁP NHẬP TỈNH – CÓ PHẢI LÀ BIỆN PHÁP GIẢM BIÊN CHẾ HIỆU QUẢ?

Hãy nhìn vào thực tiễn. Việc sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội có giảm được biên chế không? Câu trả lời là không! Chưa nói đến lãng phí thời gian cho việc di chuyển làm việc. Cụ thể là một bộ phận cán bộ Thành uỷ phải di chuyển từ trung tâm Hà Nội xuống Hà Đông để đảm bảo tính đáp ứng cục bộ và không để văn phòng Tỉnh uỷ Hà Tây trống rỗng. Các ban ngành khác cũng tương tự.

Lại câu hỏi khác, nếu vì giảm biên chế thì tại sao lại thành lập thành phố Thủ Đức trong TP HCM? TP HCM không thể bằng Bắc Kinh về cả dân số lẫn diện tích.

Có rất nhiều câu hỏi, và thí dụ thực tiễn đã chứng minh, rằng việc sát nhập tỉnh không đưa đến giảm biên chế. Muốn giảm biên chế phải nhờ vào biện pháp khác.
5. THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ – HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KHÔNG NẰM Ở KHÂU SÁP NHẬP TỈNH

Những thay đổi to lớn của công nghệ đã làm thay đổi hẳn chất lượng quản lý nhà nước. Muốn tăng hiệu quả quản lý nhà nước, muốn giảm biên chế một cách mạnh mẽ, thì phải áp dụng công nghệ và thay đổi chất lượng nhân sự. Công nghệ và chất lượng nhân sự mới là chìa khoá của vấn đề, chứ không phải tách nhập tỉnh. Áp dụng công nghệ và thay đổi tỉnh trưởng quan trọng hơn sáp nhập tỉnh với những ông tỉnh trưởng kém chất lượng.

6. TÍNH KHOA HỌC CỦA CÁC TIÊU CHÍ SÁP NHẬP TỈNH?

Bộ Nội vụ đưa ra 2 tiêu chí chính để sáp nhập tỉnh. Đó là dân số và diện tích. Đối với các tỉnh miền núi, diện tích không nhỏ hơn 8000 km2, dân số lớn hơn 900 000 dân. Đối với các tỉnh không phải miền núi, diện tích lớn hơn 5000 km2, dân số lớn hơn 1,4 triệu dân (https://tienphong.vn/de-xuat-sap-nhap-10-tinh-dan-so-it…).

Nói về diện tích thì hãy nhìn vào TP HCM, chỉ 2 095,239 km2 mà phải thành lập thành phố Thủ Đức trong TP HCM, nghĩa là tách tỉnh, thì sao dưới 5000 km2 phải nhập tỉnh?

Nói về dân số, ít người rồi sẽ tăng người. Đó không phải là tiêu chí để nhập tỉnh.

Như tỉnh Kon Tum diện tích 9 674, 2 km2 – là tỉnh thuộc loại lớn của Việt Nam. Kon Tum có dân số 540 438 người. Vậy Kon Tum sẽ nhập vào tỉnh nào? Quay lại Gia Lai ư? Hay nhập vào Quảng Ngãi?

Đăk Lắk sau 1975 cũng chỉ có dân số khoảng 500 000 người mà nay đã 2 triệu dân.

Dân số Kon Tum rồi sẽ đạt 900 000 và còn hơn thế nữa. Dân số thưa là điều mừng, còn có đất mà tăng dân số.

Dựa vào đâu để Bộ Nội vụ đưa ra các con số trên. Lập luận khoa học của nó ở đâu?
Sao là 8000 km2 mà không là 7000 km2? 9000 km2, 10 000 km2? Đó là, chẳng hạn, để cho xe chạy từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh trong vòng 4 tiếng? Hay là để cho khoảng cách từ tỉnh lỵ đến huyện lỵ không nơi nào quá 50 km? Nghĩa là phải có nguyên nhân tại sao lại chọn 8000 km2. Và nguyên nhân phải được bảo vệ bởi những luận cứ khoa học không chối cãi.

Nếu nói về tiêu chí diện tích rộng? Thì thử xem một tỉnh (bang) của Canada? Canada chỉ có 10 tỉnh và 3 vùng lãnh thổ. Một tỉnh như Quebec có diện tích 1 triệu 542 ngàn 056 km2 (lớn gần gấp 5 lần diện tích Việt Nam). Họ có chia nhỏ thành 180 tỉnh cho diện tích trung bình mỗi tỉnh tương đương với diện tích các tỉnh của Việt Nam không? Thế nào diện tích rộng? Hẹp?

Nói về dân số, thì một tỉnh như Quảng Đông Trung Quốc gần sát với Việt Nam có dân số 113 triệu người, lớn hơn cả Việt Nam. Trung Quốc có 1,4 tỷ dân với diện tích 9 596 961 km2 nhưng chỉ có 27 tỉnh cùng 6 thành phố và đặc khu. Thế nào đông dân? Thế nào là ít dân?

Có thể đưa ra nhiều đề xuất tranh cãi. Là chỉ còn 50 tỉnh thành. Là chỉ còn 30 tỉnh thành. Là chỉ còn 10 tỉnh thành… Lúc đó lại phải nhìn lại bài học sáp nhập chỉ còn 40 tỉnh thành và đặc khu các năm 1975-1978.

Không có cơ sở nào để xác định con số 5000 km2, 8000 km2, 900 000 dân hay 1,4 triệu dân của Bộ Nội vụ. Đó là các con số cảm tính tự nghĩ. Không thể sáp nhập tách tỉnh dựa trên cảm tính. Sáp nhập tách tỉnh, như trên đã đề cập, phải được đề xuất bởi các minh quân từ đòi hỏi thực tiễn chính đáng.

7. SÁP NHẬP TÁCH TỈNH PHẢI TÔN TRỌNG TÍNH KẾ THỪA

Nếu không có các nguyên nhân mang tính căn bản (radical) như trên đã đề cập – đột biến về lãnh thổ, thay đổi phương thức quản trị – thì việc sáp nhập tỉnh không được đề ra.

Bởi vì việc quản trị địa lý hành chính quốc gia luôn phải tôn trọng tính kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ chính thể này sang chính thể khác. Cơ cấu địa lý hành chính các tỉnh thành là sản phẩm lịch sử của đời sống kinh tế và văn hoá, nó mang tính kế thừa truyền đời, không phải tuỳ thích muốn thay đổi mà được. Không tôn trọng tính kế thừa là vi phạm tiên đề.

Khi phải sáp nhập hay tách tỉnh, là thừa nhận sự bất hợp lý trong cấu trúc địa lý hành chính quốc gia, một cách gián tiếp là phủ định lãnh đạo đời trước. Sự phủ định phải biện minh bằng sự cần thiết chính đáng.

8. BÀI HỌC SÁP NHẬP VÀ TÁCH TỈNH

Khi người Pháp tham gia quản lý, họ chấp nhận địa giới hành chính nhà Nguyễn, không sáp nhập hay tách tỉnh, chỉ bổ sung Bắc Kỳ, Trung Kỳ ở chế độ bảo hộ và Nam Kỳ ở chế độ thuộc địa, trực thuộc liên bang Đông Dương. Năm 1945 nước ta có 69 tỉnh thành phố.

Thời VNDCCH, miền Bắc năm 1954 có 34 đơn vị hành chính, Bắc Bộ có 26 tỉnh, 2 thành phố, Trung Bộ có 4 tỉnh và 1 đặc khu, đến năm 1975 có 25 tỉnh thành. Việt Nam Cộng hoà trước năm 1975 có 44 tỉnh.

Điểm lại thực tế, các tỉnh sáp nhập thời VNDCCH như Phú Thọ hợp Vĩnh Phúc thành Vĩnh Phú, Hưng Yên hợp Hải Dương thành Hải Hưng, hay các tỉnh hợp trong thời CHXHCNVN Hà Nam Ninh, Bình Trị Thiên… sau hơn chục năm thì tất cả lại tách tỉnh quay về tên cũ. Nghĩa là đã làm những điều vô ích. Chỉ sinh ra tốn kém.

Bài học sáp nhập tỉnh năm 1975-1978 luôn phải ghi nhớ.

Bài học chia tỉnh năm 1989-1997, 2004… luôn phải ghi nhớ.

Trong 76 năm tồn tại nước VNDCC và CHXHCNVN việc nhập tách tỉnh huyện xã đã tiến hành nhiều lần; thực tiễn kiểm nghiệm cho thấy không lần nào chứng minh được lợi ích, ngoài sự thiệt hại.

Việc chia tách tỉnh là việc hệ trọng. Nó phải xuất phát từ những bộ óc sáng với những đòi hỏi thực tiễn căn bản.

Những bậc quân vương thay đổi địa giới hành chính là vì họ mở rộng biên giới quốc gia, và vì họ đổi thay căn bản phương thức quản trị đất nước. Thiếu một trong hai nhân tố đó, đừng phá tính kế thừa lịch sử của địa giới hành chính nội quốc. Vẽ lại địa giới hành chính nội quốc không làm nên lịch sử.

Mấu chốt vấn đề là cơ chế tuyển chọn nhân sự bộ máy quản lý nhà nước, cơ chế vận hành bộ máy nhà nước và công nghệ, chứ không phải là sáp nhập tỉnh.

N.N.C.

Tác giả gửi BVN

This entry was posted in Chính phủ. Bookmark the permalink.

Comments are closed.