Cam kết COP26 và nghịch lý ngành điện Việt Nam

Nguyễn Đăng Anh Thi – Chuyên gia năng lượng và môi trường

Điều kiện cần để đạt mục tiêu “phát thải ròng bằng 0” vào năm 2050 là phải triệt để loại bỏ toàn bộ các dự án điện than xây mới sau 2021, và từng bước đóng cửa các nhà máy điện than đang vận hành như cam kết của Bộ trưởng Công Thương trong “Tuyên bố toàn cầu về việc chuyển đổi từ điện than sang năng lượng sạch”.

Hội nghị Biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (COP26) tại Glasgow, Vương quốc Anh đã khép lại với thỏa thuận lịch sử về duy trì mức tăng nhiệt độ toàn cầu ở mức 1,5°C so với thời kỳ tiền công nghiệp (1850-1900) được 197 quốc gia và vùng lãnh thổ nhất trí thông qua.

Tại COP26, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đưa ra cam kết đạt mức “phát thải ròng bằng 0” vào năm 2050 nhờ triển khai các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính mạnh mẽ, dựa trên lợi thế về năng lượng tái tạo. Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên cùng đại diện lãnh đạo hơn 40 quốc gia khác cũng đã ký vào “Tuyên bố toàn cầu về việc chuyển đổi từ điện than sang năng lượng sạch”. Trọng tâm của tuyên bố là chuyển dịch từ sản xuất điện than hiện hữu sang điện sạch chậm nhất là vào thập niên 2040; ngừng cấp phép, ngừng xây mới các dự án điện than, chấm dứt nguồn hỗ trợ mới và trực tiếp của chính phủ đối với điện than trên toàn thế giới.

Dù cụm từ “loại bỏ hoàn toàn than đá” (phase-out coal) được thay bằng “giảm dần sử dụng than đá” (phase-down coal), nhưng đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, việc cắt giảm nhiên liệu hóa thạch, mà đặc biệt là than đá, được đưa vào trong một hiệp định của Liên hợp quốc.

Nước Anh là nơi khởi nguồn của nhiệt điện than, khi nhà máy điện than thương mại đầu tiên trên thế giới được Thomas Edison đưa vào vận hành năm 1890 tại London. Giờ đây, nước Anh cũng là nơi đặt nền tảng cho sự cáo chung của nhiệt điện than sau hơn 140 năm lịch sử với sự thông qua của Hiệp định Khí hậu Glassgow (Glassgow Climate Pact).

Năng lượng tái tạo lên ngôi, điện than thoái trào 

Trong 10 năm qua, đầu tư vào năng lượng tái tạo là xu hướng chính trong phát triển nguồn điện trên toàn cầu. Theo số liệu của REN21, tính đến cuối năm 2020, công suất lắp đặt mới của năng lượng tái tạo luôn cao hơn của năng lượng hóa thạch và điện hạt nhân cộng lại trong 10 năm liên tiếp. Đặc biệt, công suất nguồn điện lắp đặt mới từ năng lượng tái tạo tăng thêm trong năm 2020 chiếm 83%, trong khi từ năng lượng hóa thạch và điện hạt nhân chỉ chiếm 17%.

Thành tích này đạt được nhờ những chính sách và mục tiêu ổn định của các quốc gia về năng lượng tái tạo, đi kèm là sự giảm giá và phát triển công nghệ của loại hình năng lượng này.

Tỷ lệ phát triển các nguồn điện mới theo công suất giai đoạn 2010-2020.

Cũng từ báo cáo của REN21 cho thấy năng lượng tái tạo ngày càng có giá thành cạnh tranh so với các nhà máy điện chạy bằng nhiên liệu hóa thạch. Trong 10 năm qua, giá điện mặt trời đã giảm đến 85%, giá điện gió ngoài khơi giảm 48%, giá điện gió trên bờ giảm 54%.

Năm 2020, giá điện mặt trời và điện gió trên bờ đã hoàn toàn rẻ hơn so với điện từ than và khí.

Số liệu của REN21 cho thấy trung bình toàn thế giới trong năm 2020, giá phát điện mặt trời là 0,057 US$/kWh, giá phát điện gió trên bờ là 0,041 US$/kWh và giá phát điện gió ngoài khơi là 0,084 US$/kWh.

Sự giảm giá ngoạn mục của điện gió và mặt trời chỉ trong một thập niên qua đã lý giải về sự lên ngôi của điện mặt trời và điện gió trong phát triển nguồn điện mới trên thế giới.

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) dự báo điện mặt trời và điện gió tiếp tục dẫn đầu làn sóng tăng trưởng nguồn điện cho đến năm 2040, song hành cùng nhiệt điện khí và thủy điện. Trong khi đó, nhiệt điện than gần như đã đạt sự bão hòa trong suốt 20 năm tới.

Trong 10 năm qua, tỷ trọng sản lượng điện than trên toàn bộ sản lượng điện toàn cầu giảm từ 40,3% xuống còn 33,8%. Ngược lại, tỷ trọng sản lượng điện gió và mặt trời tăng liên tục từ 1,8% đến 9,4%. Chỉ trong vòng một thập niên, sản lượng điện gió và mặt trời đã tăng đến 545,8% trong khi sản lượng điện toàn cầu chỉ tăng 24,5%. Điều này cho thấy năng lượng tái tạo lên ngôi và điện than thoái trào trên thế giới theo xu thế không thể đảo ngược.

Ảnh: CTV

Theo Tổ chức Giám sát Năng lượng Toàn cầu (GEM), chỉ riêng Trung Quốc tăng công suất 38.400 MW các nhà máy nhiệt điện than mới trong năm 2020, tiến trình loại bỏ điện than tại phần còn lại của thế giới vẫn diễn ra mạnh mẽ. Tổng công suất các nhà máy điện than bị đóng cửa tiếp tục ghi nhận mức cao kỷ lục là 37.800 MW trong năm 2020. Trong đó, đứng đầu là Mỹ (11.300 GW) và EU27 (10.100 MW).

Một số quốc gia châu Á như Indonesia, Bangladesh, Philippines đã tuyên bố đang tiến hành hủy hoặc rà soát các dự án điện than mới, riêng Nhật Bản và Hàn Quốc đã cam kết đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 ngay cả trước COP26. GEM nhận định rằng trong bối cảnh khó huy động vốn cho dự án điện than và chi phí năng lượng tái tạo giảm, các dự án điện than sẽ càng bị trì hoãn hơn nữa và thậm chí ngày càng trở nên bất khả thi về tài chính.

Điện than, thủ phạm đe dọa tham vọng “phát thải ròng bằng 0”

Thế giới đang tháo chạy khỏi điện than, trong khi Việt Nam (và Trung Quốc) đang làm điều ngược lại.

Mười năm trước, điện than chỉ đóng vai trò thứ yếu trong lưới điện quốc gia, khi chỉ đóng góp 17,6% sản lượng, kém xa so với điện khí (49,4%) và thủy điện (30,1%). Nhưng chỉ cần một thập niên liên tục mở rộng công suất, điện than đã là “quân vương” tại Việt Nam khi đóng góp đến 52,9% sản lượng điện, vượt qua thủy điện (25,5%) và “dìm” điện khí xuống hàng thứ yếu (chỉ còn 15,7%). Trong khi sản lượng điện toàn hệ thống chỉ tăng chưa đến 3 lần, thì sản lượng điện than đã tăng gần 9 lần sau 10 năm. Tỷ trọng sản lượng điện than của Việt Nam hiện đã cao gấp 1,6 lần mức trung bình của thế giới (52,9% so với 33,8%), trong khi tỷ trọng sản lượng điện gió và mặt trời chỉ xấp xỉ một nửa của thế giới (5,4% so với 9,4%).

Nguồn: Tác giả vẽ theo số liệu của Our World in Data, 11.2021.

Việc liên tục gia tăng công suất và sản lượng điện than đã đưa Việt Nam thành “cường quốc điện than” của thế giới, dù quy mô hệ thống điện Việt Nam chỉ xếp thứ 23 thế giới. Theo Global Coal Plant Tracker, Việt Nam hiện xếp thứ 6 châu Á và thứ 11 trên thế giới về công suất lắp đặt nhiệt điện than. Ba nước đứng đầu thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ.

Với đề xuất xây mới 27 nhà máy điện than trong 15 năm tới theo dự thảo Quy hoạch Điện WIII (QHĐ8) tháng 10 vừa rồi, phát thải khí nhà kính của Việt Nam sẽ còn tăng liên tục, thấy rõ nguy cơ QHĐ8 làm tiêu tan tham vọng ‘phát thải ròng bằng 0’ vào năm 2050 của Việt Nam.

Nếu chọn điện than làm trụ cột trong ba thập niên tới với tỷ lệ sản lượng điện than chiếm 45,5% vào năm 2030 và 32,4% vào năm 2045 như dự thảo QHĐ8, Việt Nam không thể nào đạt mục tiêu ‘phát thải ròng bằng 0’ khi không có nguồn điện nào kịp thay thế điện than. Theo báo cáo thuyết minh QHĐ8 (2.2021), ước tính phát thải khí nhà kính của ngành năng lượng năm 2045 lên đến 350 triệu tấn CO2 tương đương, đúng bằng toàn bộ lượng phát thải của Việt Nam năm 2020. Việc đưa lượng phát thải khổng lồ này về 0 sau đó 5 năm là điều phi thực tế.

Với cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, chắc chắn Việt Nam phải chỉnh sửa lại QHĐ8 cho phù hợp. Trong đó, trọng điểm sẽ là tái cấu trúc ngành năng lượng theo hướng tập trung vào điện sạch, từ bỏ điện than.

Còn tiếp…

N.Đ.A.T.

Nguồn: Người Đô thị

This entry was posted in Điện than. Bookmark the permalink.