Miếng bả Chủ nghĩa Quốc tế Vô sản trong tay Trung Quốc

Huy Đức

“Bả” là thứ thấy ngon lành nhưng bên trong có chất độc để giết con thú nào dại dột ăn nó. Bề ngoài không hấp dẫn thì làm sao dụ được thú! Nhưng những tay thiện nghệ đặt bả đều biết mỗi loài thú có một “khẩu vị” riêng. Có thứ làm loài này mê tơi, mà loài kia lại dửng dưng, không thèm động tới. Trung Quốc dùng “chủ nghĩa quốc tế vô sản” làm bả chẳng qua là vì các nhà cách mạng Việt Nam lúc ấy đắm đuối với chủ nghĩa Mác Lê.

Ngày nay, tình hình đã rất khác: chủ nghĩa Mác Lê ở Việt Nam chỉ còn là khẩu hiệu, không được ai tin, ngay cả những cán bộ cao cấp. Vậy thì những ai còn cổ võ cho “bốn tốt mười sáu chữ vàng” nhất định không phải do ăn phải bả “chủ nghĩa quốc tế vô sản”. Thế họ vì cái gì?

Cứ đặt câu hỏi này cho người dân Việt Nam, tôi tin phần lớn đều trả lời bằng một nụ cười tinh quái, như thể nói theo kiểu nhân vật cụ cố Hồng của Vũ Trọng Phụng: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”.

Dũng Hoàng

Xung đột Biển Đông được đặt lên bàn nghị sự lúc này là cần thiết. Nhưng, trong mối quan hệ giữa Hà Nội với Bắc Kinh không chỉ có vấn đề Biển Đông. Để xử lý mối quan hệ ấy, không những cần sách lược khôn ngoan mà còn phải được đặt trong tầm nhìn chiến lược.

Một người giúp việc gần như trọn đời với Thủ tướng Phạm Văn Đồng và từ năm 1949 đến 1969, luôn ở bên cạnh Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh – ông Trần Việt Phương – nói rằng: “Trong lịch sử nghìn năm giữ nước của Việt Nam, chưa có thời đại nào ngây thơ, mất cảnh giác với Trung Quốc như thời đại Hồ Chí Minh”. Sở dĩ có sự “mất cảnh giác” này, theo ông Việt Phương là vì, Hà Nội đã “Có quan niệm ngây thơ về chủ nghĩa quốc tế vô sản, quan niệm ngây thơ từ người cao nhất của ta chứ không phải ở cấp độ vừa”.

Trong hồi ký được công bố chính thức trên báo Nhân dân [số ra ngày 25-3-1984], Thư ký kiêm phụ trách báo chí của đoàn Việt Nam trong Hội nghị Geneva, ông Nguyễn Thành Lê, cho rằng “Bắc Kinh đã ép buộc Hồ Chí Minh phải chia đôi Việt Nam theo vĩ tuyến 17”.

Theo ông Hoàng Tùng, ngày 3-7-1954, sau khi đạt được thỏa thuận với Mỹ và Pháp, Chu rời Geneva về Liễu Châu gặp Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, thông báo với Hồ Chí Minh ý kiến của Molotov và của ông ta, dự định chia cắt Việt Nam thành hai miền ở vĩ tuyến 17. Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh nhất quyết đòi, dẫu có lùi cũng chỉ vĩ tuyến 15 hoặc tối thiểu là 16. Một mặt, Chu Ân Lai “dọa”, Hoa Kỳ có thể nhảy vào vòng chiến và khi đó, Liên Xô và Trung Quốc sẽ không thể hỗ trợ cho Hồ Chí Minh. Một mặt, ông ta mềm dẻo: “Ghi nhớ lời dặn của Hồ Chủ tịch, nhưng xin phép, tướng ngoài biên ải được căn cứ vào tình hình thực tế mà quyết định”.

“Tướng ngoài biên ải” lúc đó là Phạm Văn Đồng thì gần như lệ thuộc vật chất vào Chu. Những báo cáo của Phạm Văn Đồng về cho Hồ Chí Minh đều phải sử dụng điện đài và mật mã của đoàn Trung Quốc.

Chia cắt đất nước không những không phải là ý chí của nhân dân miền Nam, không phải của nhân dân Việt Nam, mà ngay cả “Bên Thắng Cuộc” cũng chỉ ký do ép buộc. Thế nhưng, để thống nhất trở lại, để xé chữ ký đó của mình, những người cộng sản đã tiến hành một cuộc chiến kéo dài suốt hơn hai mươi năm sau đó.

Tháng 11-1946, khi cả Việt minh và người Pháp đang chuẩn bị khí giới trong đất liền, quân Tưởng Giới Thạch đổ bộ lên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa, và tháng 12-1946, đổ bộ lên Itu Aba thuộc Trường Sa. Năm 1950, quân Tưởng rút khỏi hai quần đảo này để cho Bắc Kinh tuyên bố “chủ quyền”. Sau Hiệp định Geneva, khi Chính quyền miền Nam Việt Nam chưa kịp tiếp quản Hoàng Sa, hai đảo lớn nhất ở đấy đã bị “quân giải phóng Trung Quốc” thừa cơ chiếm mất.

Tưởng và Mao có thể khác nhau về ý thức hệ và đối đầu về quyền lực nhưng cách thu vén đất đai biển đảo cho Đại Hán thì nhất quán. Họ luôn trục lợi được khi ném súng cho các bên.

Ngày 4-4-1972, ở Quảng Trị, khi da thịt người Việt đang bận “tàn nhau”, Kissinger phái Winston Lord tới New York gặp Đại sứ Hoàng Hoa, nhắn Trung Quốc: “Hải quân Mỹ sẽ được lệnh ở lại tại khoảng cách mười hai dặm kể từ quần đảo Hoàng Sa”. Người Mỹ cần Bắc Kinh làm ngơ cho họ ném bom bằng B52 ra tới Thanh Hóa. Người Trung Quốc sử dụng cam kết miệng ấy để ngày 19-1-1974 họ cướp Hoàng Sa. Hạm đội 7 đã không có bất cứ động thái gì kể cả cứu các quân nhân VNCH đang thoát thân bằng xuồng con giữa biển. Nhiều trí thức VNCH thân Hà Nội đang ở Bắc Âu nhận được thông điệp, Trung Quốc giữ Hoàng Sa hộ.

Người thân luôn luôn kể các câu chuyện cảnh giác của Lê Duẩn với Bắc Kinh. Trên thực tế, khi Trường Chinh mất chức Tổng bí thư, cái ghế ấy đã bị bỏ trống từ năm 1956. Trong thời gian đó, Trung Quốc tham gia tích cực đưa Lê Duẩn ra thay.

Người lái chiếc xe Ford bốn chỗ chở Lê Duẩn từ Sài Gòn sang Phnom Penh là một nhà tư sản người Hoa, ông Lai Thanh. Người được phái từ Hà Nội vào Phnom Penh chuyển lá thư của ông Phạm Hùng gửi cho ông Lê Duẩn cũng là người Việt gốc Hoa, nữ tình báo Hồ Anh. Người đón và đưa Lê Duẩn đi tàu từ Phnom Penh tới Hồng Kong là một cán bộ thuộc Hoa Kiều vụ của Đảng Cộng sản Trung Quốc hoạt động tại miền Nam. Ngày 23-5-1957, phái viên Trung Quốc đã cùng với Hồ Anh đưa Lê Duẩn từ Hong Kong về Tỉnh ủy Quảng Châu. Các nhà lãnh đạo ở đây đón tiếp Lê Duẩn vô cùng trọng thị.

Trên đường bay trở lại Việt Nam, những đồng chí Trung Hoa tinh tế đã lấy lý do “thời tiết xấu”, cho dừng máy bay chở Lê Duẩn ở Nam Ninh. Tại đó, các “đồng chí Trung Quốc” sắp xếp để Lê Duẩn có cuộc đoàn tụ cảm động với con gái Lê Tuyết Hồng. Tuyết Hồng được Trung Quốc nuôi ăn học ở ký túc xá Quế Lâm, cũng như sau này, người vợ miền Nam của Lê Duẩn cũng học ở Trung Quốc và luôn được các nhà lãnh đạo Bắc Kinh tôn trọng.

Cuộc chiến tranh của Lê Duẩn ở miền Nam cũng không bí mật gì với Bắc Kinh cả.

Bắc Kinh huỵch toẹt ra rằng, từ tháng 6-1965 đến tháng 8-1973 họ đưa sang Việt Nam tổng cộng 320.000 “quân tình nguyện” bao gồm lính phòng không, thợ máy, thông tin, công binh… Quân số lúc đạt mức cao nhất lên tới 170.000. Có khoảng bốn nghìn người Trung Quốc chết tại Việt Nam trong thời gian đó.

Nhiều tài liệu chính thức cho thấy, trước năm 1975, “phóng viên Tân Hoa Xã” đã vào tận Củ Chi và có mặt ở nhiều chiến trường Nam Trung Bộ. Đến cả một kế hoạch tối mật của Lê Duẩn như cuộc đảo chánh của Đại tá Phạm Ngọc Thảo cũng được Bắc Kinh hậu thuẫn từ năm 1964 bằng cách in một lượng tiền lớn, gọi là “Hàng 65”, chuyển vào Trung ương Cục [Số tiền này được dùng để đổi ở miền Nam trong Chiến dịch X2, 10-9-1975]. Khi Lê Duẩn chuẩn bị đánh Mậu Thân, dù rất bí mật với Tướng Giáp, Trung Quốc cũng biết để in một lượng tiền khác chuyển vào Nam, gọi là “Hàng 67”.

Chưa kể dày dép, súng ống, mũ cối, chỉ riêng tiền mặt bằng dollar, Bắc Kinh cung cấp dư dả tới mức, sau ngày 30-4-1975, trong két các mặt trận còn dư tổng cộng 105 triệu USD tiền mặt. Tiền mặt do Trung Quốc trực tiếp viện trợ, mà Hà Nội sang nhận từng va-li, từ năm 1964-1975, lên tới 626.042.653 USD.

“Bên Thắng Cuộc” chịu ơn “sự giúp đỡ” này và nhiều thế hệ được dạy, nhờ sự giúp đỡ “trên tinh thần quốc tế vô sản” ấy mà có Điện Biên Phủ và “Miền Nam giải phóng”. Nhưng đấy chỉ một tiết diện. Phải đặt vai trò của ý thức hệ trong sự chia cắt và binh đao mới thấy, cái giá mà dân tộc ta, nhân dân ta phải trả cho các “khoản vay quốc tế vô sản” thật là đau đớn.

Tinh thần quốc tế vô sản mà Bắc Kinh vẫn sử dụng trước nay chỉ như một miếng bả. Cái mà họ “bẫy” được là biển đảo, là đất đai, chưa kể những cuộc chia chác quốc tế trên máu xương người Việt. Kể từ Hội nghị Thành Đô, khi Bắc Kinh từ chối dùng “giải pháp đỏ” lẽ ra Hà Nội phải thấy họ không còn là cộng sản.

Có thể chỉ là ngẫu nhiên khi Covid-19 đến từ Trung Quốc khiến Việt Nam phải cách li cho tới sát ngày 30-4. Nhưng, thay vì ầm ĩ kỷ niệm 45 năm, “cách li tại nhà” nên là cơ hội để coi lại các bài học, thừa nhận trách nhiệm, nhìn nhận vai trò pháp lý của người anh em miền Nam trong việc xác lập chủ quyền với Hoàng Sa. Dũng cảm coi Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng là vô giá trị. Chưa bao giờ là quá trễ để suy ngẫm về “quốc tế vô sản” mà nhận thấy, Trung Quốc chưa từng là bạn và vĩnh viễn chỉ là một quốc gia vận hành bằng các âm mưu Đại Hán.

H.Đ.

Nguồn: FB Osin

This entry was posted in Âm mưu Tàu Cộng, Biển Đông. Bookmark the permalink.